Dương Việt Anh - 20181039 - Báo cáo TN in offset

You might also like

Download as docx, pdf, or txt
Download as docx, pdf, or txt
You are on page 1of 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

VIỆN KỸ THUẬT HÓA HỌC


BỘ MÔN KỸ THUẬT IN
-------- *** --------

BÁO CÁO
THÍ NGHIỆM KỸ THUẬT IN OFFSET

Sinh viên thực hiện: Dương Việt Anh


MSSV: 20181039
Lớp: KT In 01 - K63
GV hướng dẫn: Thầy Lưu Bách Hiệp

Hà Nội – 2021

1
BÀI 1: TÌM HIỂU THIẾT BỊ, VẬT LIỆU, QUY TRÌNH VẬN HÀNH

I. Mục đích
- Tìm hiểu các bộ phận chính của một máy in offset tờ rời: hệ thống vào giấy, in
và ra giấy.
- Tìm hiểu các loại giấy BB, couche với các định lượng khác nhau phục vụ trong
in offset.
- Xây dựng quy trình in cho máy in offet tờ rời SM74.

II. Báo cáo thí nghiệm


1. Trình bày vai trò và hoạt động của các bộ phận (vào giấy, ra giấy, cấp
mực, ép in) trong máy in offset SM74
a. Bộ phận vào giấy
- Hệ thống đầu bò đưa giấy vào
+ Hệ thống đầu bò (dùng khí nén): tách tờ giấy trên cùng của chồng giấy bằng các
miệng hút chân không và luồng khí nén. Đầu bò dạng khí nén có độ tin cậy cao,
không làm hỏng bề mặt tờ giấy, cho phép sử dụng giấy khổ lớn và có định lượng
khác nhau. Đầu bò dùng khí nén có thể hoạt động với tốc độ cao và thường cao
hơn tốc độ của máy in.
+ Các bộ phận chính:
* Chân vịt : sử dụng để chỉ bộ phận giữ chồng giấy trong cụm hút tách tờ do có
hình dạng rất giống với chân của vịt . Bộ phận này được đặt ở giữa chồng giấy,
dùng để chặn lên chồng giấy sau khi ống hút đã hút tờ giấy trên cùng lên khỏi
chồng giấy . Để tăng hiệu quả tách tờ, ở giữa chân vịt được thiết kế các lỗ nhỏ để
cấp một lượng hơi thổi vào giữa tờ giấy đã được hút lên và chồng giấy. Lượng hơi
thổi này sẽ tạo thành lớp đệm khí giúp tờ giấy dễ dàng được đưa vào bàn nạp. Sự
di chuyển của chân vịt còn giúp cho việc nâng bàn lên khi chồng giấy bị vơi đi.
Bàn được nâng lên với một khoảng nhất định, khoảng cách này có thể được điều
chỉnh tuỳ theo tình trạng hoạt động của máy.
* Ống thổi hơi tách tờ: Có nhiệm vụ thổi hơi làm tơi các tờ giấy trên cùng của
chồng vật liệu làm giảm hiện tượng đúp tờ khi ống hút giấy hoạt động

2
* Lưỡi gà: Là 2 thanh thép mỏng dài, có độ đàn hồi cao. Có chiều rộng khoảng
1cm, chiều dày khoảng 0,05-0,3mm.
Khi chồng giấy được thổi bung lên, tờ trên cùng được ống hút nâng lên, lưỡi gà
tiếp xúc với tờ trên cùng của chồng giấy, do độ mềm dẻo nó uốn cong theo chiều đi
lên của giấy cho phép chỉ một tờ giấy đi qua. Sau khi tờ giấy trên cùng được nâng
lên, do tính đàn hồi của lưỡi thép nó bung trở lại và đè lên tờ kế tiếp , giữ tờ này
lại.
* Ống hút chân không
+ Mỗi tờ giấy được nâng lên và đưa vào bàn nạp là nhờ có ống hút chân không.
Những ống này thường có đầu gắn thêm núm cao su để tăng thêm diện tích tiếp
xúc cũng như có tác dụng làm kín nhằm giữ giấy chặt hơn.
+ Tùy thuộc đặc tính hoạt động của ống hút mà người ta phân biệt thành hai loại:
ống hút nâng và ống hút đưa. Đối với núm hút nâng, khi điều chỉnh chu kỳ hơi hút
quay tới đúng vị trí cần thiết, nó cho phép lượng hơi hút chân không đi tới ống hút
năng làm cho giấy được hút lên và giữ nó đúng vị trí. Khi núm hút nâng hút giấy
lên, núm hút đưa di chuyển đến vị trí thích hợp để nhận giấy, lúc này một lượng
hơi hút sẽ được cung cấp cho ống hút đưa để hút giữ tờ giấy đồng thời hơi hút
trong ống hút nâng sẽ bị ngắt, ống hút đưa tiếp tục giữ và đưa giấy vào bàn nạp.
+ Lượng hơi hút, độ cao và góc nghiêng của ống hút nâng và ống hút đưa đều có
thể điều chỉnh được tùy theo từng loại giấy .
- Cơ cấu bàn đỡ chồng giấy
* Thanh định vị chồng giấy
Tay kê định vị đặt tại bàn nhận giấy, đó là hai thanh sắt hoặc nhôm dựng thẳng
đứng dọc theo chiều cao của bàn nhận giấy, được gắn trên một cây thước nằm
ngang vuông góc với nó. Trên đó có ghi kích thước của khổ giấy cần in, từ khổ in
tối thiểu đến khổ in tối đa. Chúng có nhiệm vụ bảo đảm cho chồng giấy in đưa vào
đúng kích thước và giữ vị trí của cây giấy ổn định. Chức năng thứ hai là giữ cho
chồng giấy gọn gàng, bảo đảm cho tờ giấy in đi vào bàn nạp giấy một cách ổn
định.
* Bàn chứa giấy
Bàn được làm bằng thép tấm được dập định hình có gắn bánh xe thuận tiện cho
việc di chuyển hoặc đơn giản là các tấm gỗ phẳng được ghép lại với nhau . Các bàn

3
này được lắp lên máy nhờ vào hai thanh giá bằng thép có thể di chuyển lên xuống
nhờ truyền động bằng xích.
- Cơ cấu vận chuyển tờ giấy tới cụm tay kê đầu
* Hệ thống băng chuyền
Có chức năng vận chuyển tờ giấy sau khi được đầu bò tách ra khỏi chồng vật liệu
đưa vào cụm tay kê đầu bằng hệ thống băng chuyền. Trên dây băng được đục 2
hàng lỗ hút hơi để hút áp phẳng tờ giấy vào dây băng rồi vận chuyển giấy đến tay
kê đầu. Hệ thống băng chuyền có thể chuyển động với vận tốc thay đổi tùy thuộc
vào tốc độ in của máy.
* Bắt đúp cơ
Hệ thống bắt đúp cơ thường hoạt động dựa trên cảm biến độ dày tờ in. Khi giấy bị
2 tờ thì độ dày thay đổi đẩy bánh xe lên và kích vào rơ-le, ngừng hoạt động.
* Bắt đúp điện
Bộ phận kiểm soát làm quang điện khi bắt đầu ép in thì đèn bật sáng, giấy sẽ che
đèn, nếu giấy bị méo thường bóng đèn sẽ bị hở sáng đi đến đầu nhận, tạo thành
luồng điện kích thích rơ-le hoạt động làm dừng dây băng.
*Quá trình hoạt động bộ phận vào giấy
Những tờ giấy trên cùng của chồng giấy được vòi thổi trước làm cho tơi ra ( hạn
chế hiện tượng các tờ giấy bị dính lại với nhau). Vòi hút giấy hạ xuống bề mặt của
tờ giấy trên cùng. Chân vịt hạ xuống phía dưới của tờ giấy vừa được hút lên, nó
giữ chặt các tờ giấy còn lại. Từ chân vịt, một luồng khí được thổi ra và luồng khí
này nhấc bổng cả tờ giấy vừa được hút lên và giữ nó trên đệm không khí. Hệ thống
lưỡi gà ép sát các tờ còn lại trên chồng vật liệu. Vào thời điểm này vòi hút chuyển
giấy hạ xuống, tờ giấy hút và dịch chuyển nó tới băng chuyền giấy. Giấy được đẩy
sang tay kê biên, qua hệ thống bắt đúp cơ và điện để đi vào tay kê đầu.
b. Bộ phận ra giấy
- Guồng xích vô tận
Guồng xích vô tận nhận tờ in từ đơn vị in nhờ các dàn nhíp (nhíp truyền) gắn trên
guồng xích. Tùy kích thước máy mà trên guồng có 2, 3, 5, ... dàn nhíp, số lượng
thanh nhíp vận chuyển càng nhiều thì đồng nghĩa với việc tốc độ máy in càng cao.
Những đặc trưng tiêu biểu :

4
● Guồng xích : được cấu thành bởi một trục chính quay cùng tốc độ với máy,
hai đầu trục gắn cặp đĩa kéo truyền động cho cặp dây xích bố trí hai bên
thành máy, xích dẫn và các dàn nhíp vận chuyển chuyển động liên tục trong
các đường ray dẫn hướng và đỡ nó tạo thành một vòng tròn khép kín.
● Phía sau guồng xích thông thường sẽ có thêm một trục đỡ giấy hoặc lòng
máng có đệm hơi thổi để đỡ tờ in trong lúc tờ in được chuyển tử ống ép sang
dàn nhíp vận chuyển.
● Mỗi tờ in ra khỏi đơn vị in cùng lúc với một dàn nhíp đi tới , cả hai được
quay với cùng một tốc độ. Trong một chu kỳ in, mỗi dàn nhíp trên guồng
nhíp nhận một tờ in ra.
- Thanh vỗ giấy
Để hỗ trợ cho việc nhận giấy thành chồng ngay ngắn, ngoài việc ổn định cạnh đầu
và đuôi giấy, người ta gắn thêm ở hai bên cạnh hông chồng giấy hai tay kê vỗ dao
động theo nhịp trao của dàn nhíp. Khi hoạt động , mỗi tờ in khi rơi xuống chồng
giấy sẽ được hai tay kê hông vỗ vào vị trí giúp ổn định cạnh hông tờ in. Bộ phận
này được truyền động từ hệ thống truyền động của máy.
c. Bộ phận cấp mực, ẩm

 Bộ phận cấp mực: cung cấp mực cho các phần tử in trên bản và phủ lên các
phần tử in trên bản một lớp mực mỏng
- Máng mực: chứa mực in cung cấp trong quá trình in
- Lô lấy mực: là vận chuyển mực luân phiên tiếp xúc giữa lô máng mực và lô đầu
tiên của hệ thống lô mực.
- Lô sàng mực: được truyền động giữa bánh răng vừa quay tròn quanh trục, vừa
dao động qua lại theo chiều dọc trục để phân bố và tạo ra lớp mực mỏng.
- Lô trung gian: tạo ma sát giữa các lô để truyền mực và dàn mỏng lớp mực.
- Lô chà mực: tiếp xúc với bản in và truyền mực lên bản.
- Vít chỉnh mực điều chỉnh khoảng hở giữa lô máng mực và máng mực. qua đó
điều chỉnh lượng mực đưa vào hệ thống lô. Vít chỉnh mực cho phép điều chỉnh
mực cung cấp cho từng khu vực khác nhau dọc theo chiều dài bản in.
 Bộ phận cấp ẩm: tạo ra một lớp màng mỏng lên các phần tử không in trên
bản

5
- Bể cấp ẩm: Dưới 10 độ, giảm tác động cảu nhiệt độ tới quá trình in; nước, dung
dịch làm ẩm, cồn; máy bơm
- Lô lấy nước (hay còn gọi là lô máng)
- Lô truyền (hay còn gọi là lô chấm) nó tiếp xúc không liên tục với lô máng nước
và lô sàn, để truyền dung dịch làm ẩm.
- Lô sàn dao động qua lại để dung dịch được tán đều qua máy in
- Lô chà truyền dung dịch ẩm từ lô sàn đến bản in.

d. Bộ phận in
Bộ phận in gồm hệ thống
- Trục ống bản: chứa bản in và có thể tháo lắp tự động
- Lô cao su: được bọc một lớp cao su có khả năng nhận hình ảnh từ khuôn in và
truyền nó lên giấy khi nó đi qua dưới áp lực in.
- Ống ép in: có bề mặt được gia công nhẵn bóng, hình trụ, thường làm bằng gang
đúc. Tiếp xúc với lô cao su để tạo áp lực in, truyền hình ảnh từ lô cao su xuống bề
mặt vật liệu in.
e. Bộ phận ra giấy và thu hồi tờ in
- Núm điều chỉnh thanh vỗ hai bên (cho đều, cho phẳng giấy)
- Thanh vỗ đầu
- Núm xoay điều chỉnh kích thước giấy
- Quạt thổi tờ in: kiểm soát độ rơi của tờ giấy
- Cần gạt điều chỉnh hệ thống quạt, hướng thổi, tốc độ
- Điều chỉnh hơi hút dây băng ra giấy

f. Bộ phận điều khiển


Màn hình điều khiển:
- Đặt kích thước tờ in
- Điều chỉnh tay kê
- Điều chỉnh tốc độ, số lượng tờ in

6
- Điều chỉnh phun bột, khử từ
- Điều chỉnh từng cụm: áp lực; ẩm; mực; ...
Bảng điều khiển được bố trí tại các cụm in và phía bộ phận vào giấy, giúp quá
trình vận hành của thợ in thuận tiện.

2. Trình bày trình quy trình in trên máy in offset tờ rời SM74
- Bật nguồn máy in offset (hệ thống cấp ẩm đồng thời được khởi động)
- Độn lót cao su (cao su có độ dày 1,95mm), lót thêm 0,40mm để áp lực in vào
khoảng 0,1- 0,15mm
- Nhập kích thước và chiều dày của giấy và đặt chiều tay kê
- Đặt áp lực in (áp lực mặc định của máy là 0,1 mm)
- Căn chỉnh ẩm và tay kê, đặt giá trị ẩm, mực
- Tiến hành vào giấy, điều chỉnh hơi hút đầu bò, băng chuyền, tay kê biên
- Xúc mực vào máng, chạy máy chậm, mở khe hở cho đều, để các thanh gạt
mực tại vạch 5, sau đó chỉnh theo phần tử in trên bản
- Kiểm tra bản in và lắp lên máy
- Tiến hành chạy máy in (cho giấy vào)
- Điều chỉnh hệ thống ra giấy, phun bột
- Kiểm tra tờ in: màu sắc, hình ảnh để điều chỉnh mực, ẩm, cân bằng mực
nước, tay kê, độ chính xác chồng màu.

* Chú ý:
- Mở khóa cụm nhấn 2 lần liên tục vào ký hiệu khóa cụm
- Muốn sử dụng cụm in nào thì phải mở khóa cụm in đó và tắt đi sau khi sử dụng
xong, nếu mở cả 2 cùng 1 lúc thì sẽ không sử dụng được.
- Các nút đều phải nhấn 2 lần (lần 1 còi báo, lần 2 bắt đầu hoạt động)
- Trong quá trình chạy máy, nếu nhấc lắp bảo vệ máy sẽ dừng.
- Giấy trước khi đưa vào máy phải được dỗ đều.

7
8
BÀI 2: TÌM ÁP LỰC IN TỐI ƯU KHI THỰC HÀNH IN OFFSET

I. Mục đích thí nghiệm


-Khảo sát sự ảnh hưởng của áp lực in tới mật độ màu của sản phẩm in
-Tìm ra áp lực in tối ưu

II. Báo cáo thí nghiệm


1. Mục đích và ý nghĩa của phương pháp xác định áp lực in phù hợp
- Mục đích: Phân tích sự ảnh hưởng của áp lực in tới những phần tử in nói riêng và
chất lượng sản phẩm in.
- Ý nghĩa: Trong quá trình máy in offset, bên cạnh cân bằng mực nước thì áp lực in
là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm in, khi thay đổi áp
lực in của máy in, các quá trình truyền mực liên tục thay đổi , dẫn đến sự thay đổi
mật độ màu sắc trong quá trình in, do đó cần khảo sát để tìm ra áp lực phù hợp với
máy in và sản phẩm.

2. Ảnh hưởng của áp lực in tới các phần tử in trong quá trình in
- Định nghĩa: lực tác dụng lên một diện tích trong vùng in gọi là áp lực in hay lực
ép in (N/m2).
- Sự ảnh hưởng của áp lực in tới chất lượng sản phẩm in:
+ Khi áp lực chưa đủ: Lượng mực truyền sang tờ in không đủ, không đồng đều làm
cho phần tử in không no mực, độ dày mực không đạt, tờ in ra bị mờ, mật độ quang
đo được thấp.
+ Khi áp lực in vừa đủ ( áp lực in phù hợp): áp lực in vừa đủ cho hình ảnh in đẹp
với chất lượng cao, đồng thời nâng cao độ bền tấm cao su và bản in, do đó có thể
dùng để in số lượng lớn cho hiệu quả kinh tế cao.
+ Khi áp lực in quá lớn: khi áp lực in quá lớn làm cho hình ảnh in trên tờ in bị sai
lệch (chữ và hình ảnh có khuynh hướng bị kéo dài theo chiều quay của ống in),
điểm t’ram bị vỡ, hình ảnh bị nhòe, bị kéo dài. Nếu áp lực in quá lớn còn làm cho
giấy bị biến dạng, dẫn đến in chồng màu kém chính xác. Nếu in áp lực quá lớn
trong thời gian dài sẽ làm hỏng máy.

9
III. Kết quả thí nghiệm

Áp lực Mật độ Gia tăng tầng thứ


0.03 0.36 0.91
0.06 1.28 1.07
0.09 1.55 1.28
0.12 1.44 1.2
0.15 1.48 1.27
0.18 1.44 1.23
0.21 1.5 1.27

Đồ thị biểu diễn mật độ màu và gia tăng tầng thứ thay đổi theo áp lực in
Nhận xét:

- Nhìn vào đồ thị biểu diễn ra thấy, khi ở áp lực in là 0,03 mm, ta thấy giá trị mật
độ màu và gia tăng tầng thứ thấp. Vì áp lực in quá thấp dẫn đến mực truyền không
đủ sang tờ in không đủ, độ dày lớp mực không đạt, mật độ màu thấp.
- Khi tăng dần từ 0,03 đến 0,09 mm ta thấy mật độ màu tăng nhanh và sự gia tăng
tầng thứ cũng thấy rõ rệt (Mật độ màu đạt giá trị lớn nhất tại 0,09 mm). Điều đó

10
chứng minh: Khi tăng áp lực mật độ màu tăng dần, do mực truyền lên giấy càng
nhiều, lớp mực càng dày mật độ màu càng cao.

- Khi tăng từ 0,09 đến 0,21 mm thì giá trị mật độ màu và sự gia tăng tầng thứ khá
ổn định, dao động không nhiều .

- Tuy nhiên, nếu ta tiếp tục tăng áp lực in lên quá cao, mật độ màu và sự gia tăng
tầng thứ không tăng nữa, mật độ màu có khả năng giảm vì mực có độ dính cao nên
mực không thể nhả ra đều để truyền tiếp đi được.

 Áp lực tối ưu trong khoảng 0.09 - 0.15 mm

11
BÀI 3: KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA GIẤY IN TỚI CHẤT LƯỢNG
SẢN PHẨM IN
I. Mục đích thí nghiệm
- Tìm hiểu ảnh hưởng của giấy in tới chất lượng sản phẩm in
- So sánh chất lượng sản phẩm in giữa các loại giấy khác nhau, và giữa các định
lượng khác nhau của cùng 1 loại giấy.
II. Báo cáo thí nghiệm
1. Mục đích và ý nghĩa của việc thay đổi các loại giấy
- Mục đích: Tìm hiểu ảnh hưởng của giấy in tới chất lượng sản phẩm in.
- Ý nghĩa: Trong thực tế có rất nhiều loại giấy, định lượng giấy khác nhau. Việc
khảo sát và so sánh các loại giấy in, các định lượng khác nhau của cùng một loại sẽ
giúp doanh nghiệp chọn lựa được loại giấy, định lượng phù hợp với sản phẩm in của
mình.
2. Ảnh hưởng của giấy in tới chất lượng sản phẩm in trong quá trình in
- Khái niệm giấy: là một nguyên liệu quan trọng của ngành công nghiệp in ví như
“vàng trắng”. Giấy được sản xuất từ các loại bột gỗ (gỗ bồ đề, bạch đàn), tre nứa,
giấy cũ. Ngoài bột giấy trong thành phần của giấy còn có một số loại chất độn để
làm thay đổi độ trắng, độ nhẵn, độ bền cơ học của giấy.
- Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng quá trình sản xuất in:
+ Khả năng in (độ nhẵn phẳng, khả năng hấp thụ, khả năng hút ẩm):
 Độ nhẵn phẳng: Độ nhẵn phẳng bề mặt giấy có ảnh hưởng đến sự đồng đều của
lớp mực và khả năng thể hiện các chi tiết hình ảnh. Bề mặt giấy lồi lõm dẫn
đến sự tiếp xúc không đồng đều với tấm cao su offset, quá trình truyền mực
diễn ra không đồng đều trên toàn bộ diện tích in và kết quả là các chi tiết in có
thể bị mất hoặc không rõ nét. Bề mặt giấy nhẵn còn có tác dụng làm tăng độ
tương phản và độ sắc nét của hình ảnh in. Các giấy có độ nhẵn mịn cao sẽ cho
phép in hình ảnh có độ phân giải cao.
 Khả năng hấp thụ: Giấy có độ sáng cao sẽ cho kết quả phục chế có độ tương
phản và độ sắc nét cao. Nếu giấy có độ sáng không cao sẽ hấp thụ ánh sáng và
kết quả là hình ảnh in có độ tương phản và sắc nét không cao.

12
 Khả năng hút ẩm: Mỗi loại giấy giữ một độ ẩm ở một nhiệt độ nhất định, ở
điều kiện không khí ẩm thì xảy ra hiện tượng giấy hút ẩm. Giấy có độ hút ẩm
cao, có khả năng thay đổi độ ẩm tùy thuộc vào độ ẩm của môi trường. Nếu độ
ẩm tăng đến mức chấp nhận thì tăng độ ẩm của giấy cũng có chiều hướng tốt:
sợi sẽ linh động, tạo khả năng dễ gấp, giấy trở nên mềm mại và có khả năng
chịu sự co giãn lớn. Nếu thời tiết quá khô hanh, độ ẩm không khí giảm, dẫn
đến giấy quá khô trở nên giòn, và không có khả năng giãn, dễ rách khi in. Khi
gặp ẩm kích thước của giấy thay đổi một trong những hiện tượng là trương nở
của sợi dẫn đến sự sai lệch trong quá trình chồng màu khi in.
+ Giá trị pH của giấy: Các loại giấy khác nhau có độ pH khác nhau. Chỉ số pH của
giấy có ảnh hưởng đến các tính chất của mực. Với mực in offset sử dụng chất làm
khô là muối kim loại Co, Mn thì các muối này có thể kết tủa trên bề mặt giấy có độ
axit cao và do vậy không còn tác dụng tăng tốc độ khô của mực. Giấy in offset
phải có độ pH > 5.
+ Khả năng làm việc (sức căng/tính co giãn): Trong quá trình in, giấy phải chịu tác
động rất lớn của áp lực in và lực căng kéo. Do đó giấy cần phải có tính co giãn đáp
ứng được yêu cầu của phương pháp in. Giấy có sức căng, tính co dãn kém sẽ dễ bị
đứt trong quá trình kéo giấy nhưng giấy có độ bền kéo quá lớn thường có khả năng
co giãn kéo nhiều gây nên những sai lệch trong quá trình in chồng màu.
III. Kết quả thí nghiệm
Giấy Off định lượng 150g/m2, độ dày 0,15
Giấy C định lượng 150G/m2, độ dày 0,13
Giấy C định lượng 200G/m2, độ dày 0,17
Tốc độ 6000 tờ/h, In 2 màu C + M, áp lực 0,15
 Đặc điểm của 2 loại giấy dùng trong thí nghiệm:
+ Giấy couche: là loại giấy được tráng phủ, nên mặt giấy rất phẳng, mượt, bám
dính và tạo được lớp mực đồng đều.
+ Giấy offset: bề mặt nhám, chứa nhiều các vi lỗ.

13
Bảng số liệu:

Lần đo Offset 150 C150 C200


C M C M C M
1 1.20 1.10 1.53 1.59 1.60 1.53
2 1.10 1.07 1.47 1.58 1.66 1.49
3 1.12 1.07 1.46 1.59 1.57 1.48
4 1.08 1.05 1.47 1.57 1.57 1.52
5 1.08 1.08 1.52 1.57 1.56 1.53
6 1.08 1.05 1.52 1.54 1.54 1.45
7 1.08 1.06 1.52 1.52 1.53 1.43
8 1.06 1.03 1.49 1.56 1.50 1.43
9 1.06 1.05 1.49 1.53 1.51 1.44
10 1.10 1.06 1.51 1.51 1.50 1.49
TB 1.10 1.06 1.50 1.57 1.55 1.48
Nhận xét:
- Từ bảng số liệu ta thấy: Giấy C150 và C200 có mật độ màu cao hơn mật độ màu
của giấy offset (khi được in ở cùng một điều kiện). Giấy C ở những định lượng
khác nhau, mật độ màu chêch lệch nhau không nhiều.
+ Giấy offset có bề mặt nhám nên lớp mực trên bề mặt giấy không đều làm cho các
chi tiết in bị mất hoặc không rõ nét. Giấy có nhiều vi lỗ làm cho mực bị thấm hút
vào bên trong vi lỗ
 Các hạt pigment nằm được bên trên bề mặt của giấy ít, điều đó làm cho hình
ảnh in không được sắc nét.
+ Giấy C loại giấy có bề mặt bóng, mịn, láng, in rất bắt mắt và sáng, vì vậy độ
phản quang, bắt sáng cao. Giấy có bề mặt được cán một lớp hợp chất phủ bởi cao
lanh (hoặc vật liệu tương đương) nên mặt giấy: phẳng, mượt, sáng, chắn sáng tốt,
bám dính và hấp thụ mực đồng đều. tính thấm hút mực thấp hơn
 Các hạt sắc pigment nằm lại được bên trên bề mặt của giấy, làm cho hình
ảnh có độ sắc nét, mật độ màu cao.

14
 Khả năng in (độ nhẵn phẳng, khả năng hấp thụ, khả năng hút ẩm) của giấy
ảnh hưởng phần lớn đến mật độ và chất lượng sản phẩm in. Trong đó bề
mặt giấy in tác động rất lớn .
 Hình ảnh trên giấy couche có độ tương phản và độ sắc nét cao hơn giấy
offset.
BÀI 4: KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA TỐC ĐỘ IN TỚI CHẤT LƯỢNG
MÀU SẮC SẢN PHẨM IN

I. Mục đích thí nghiệm


- Tìm hiểu ảnh hưởng của tốc độ in tới chất lượng màu sắc sản phẩm in
-So sánh chất lượng sản phẩm in giữa các tốc độ in khác nhau

II. Báo cáo thí nghiệm


1. Trình bày mục đích và ý nghĩa của việc thay đổi tốc độ in
- Mục đích: Tìm hiểu ảnh hưởng của tốc độ in tới chất lượng màu sắc sản phẩm in
- Ý nghĩa: Trong quá trình máy in hoạt động, khi thay đổi vận tốc của máy in, các
quá trình truyền mực, truyền ẩm, cân bằng mực/ ẩm liên tục thay đổi, dẫn đến sự
thay đổi mật độ màu sắc trong quá trình in, do đó cần khảo sát để tìm ra tốc độ phù
hợp với máy in và sản phẩm.
2. Phân tích ảnh hưởng của tốc độ in tới chất lượng màu sắc sản phẩm in
trong quá trình in.
- Trong quá trình máy in hoạt động, khi thay đổi vận tốc của máy in, các quá trình
truyền mực, truyền ẩm, cân bằng mực/ ẩm liên tục thay đổi, dẫn đến sự thay đổi
mật độ màu của sản phẩm in, do đó cần khảo sát để tìm ra tốc độ phù hợp với máy
in và sản phẩm in.
- Khi máy in hoạt động với vận tốc cao đồng nghĩa với việc ẩm được chà lên bề
mặt bản nhiều, do đó gây ra hiện tượng nhũ tương hóa mực quá nhiều, làm giảm
mật độ màu của sản phẩm in.
- Nhũ tương là hỗn hợp của dung dịch ẩm và mực. Trong quá trình in dung dịch
làm ẩm phân bố thành những giọt rất nhỏ trên lô và chiếm tỉ lệ 20% trong hỗn hợp
nhũ tương được hình thành này, lúc này mực sẽ truyền xuống bản in tốt. Nếu lượng
dung dịch chiếm tỉ lệ nhiều hơn, lượng nhũ tương sẽ trở nên không ổn định, khả
năng tách dính của mực giảm đồng nghĩa với khả năng truyền mực sẽ bị giảm theo:
mực sẽ bị nhũ tương nhiều hơn, khi nhũ tương hình thành nhiều sẽ gây ra hiện

15
tượng bắt dơ trên bản in. Nếu nhũ tương hình thành quá ít mực sẽ không thể truyền
tới những điểm t’ram của vùng hình ảnh in trên bản và sẽ xuất hiện hiện tượng
màu sắc bị nhòe, tại những vùng tối xuất hiện đốm sáng, mất t’ram ở vùng trắng
trên bản in, mật độ màu không đều.

3. Kết quả thí nghiệm


Giấy C: định lượng 150
Độ dày: 0,13
Áp lực: 0,15
Bảng số liệu:

Lần đo 3000 6000 12000


C M C M C M
1 1.52 1.46 1.57 1.41 1.42 1.32
2 1.53 1.53 1.48 1.36 1.43 1.34
3 1.51 1.48 1.49 1.42 1.42 1.34
4 1.51 1.52 1.48 1.49 1.41 1.23
5 1.50 1.46 1.44 1.46 1.31 1.20
6 1.51 1.49 1.42 1.41 1.38 1.25
7 1.56 1.53 1.47 1.43 1.38 1.20
8 1.52 1.56 1.46 1.42 1.40 1.18
9 1.55 1.56 1.42 1.43 1.40 1.24
10 1.52 1.52 1.44 1.42 1.45 1.25
TB 1.52 1.51 1.46 1.43 1.40 1.26

Nhận xét:
- Từ bảng số liệu ta thấy khi tốc độ in tăng từ 3000 đến 12000 tờ/h thì mật
độ màu trên tờ in giảm.
- Mặc dù ở vận tốc 3000 tờ/h cho mật độ màu cao nhưng trong thực
nghiệm, tờ in có hiện tượng bị bẩn do thiếu dung dịch ẩm. Đến vận tốc
6000 tờ/h thì hiện tượng này không còn, tờ in cho mật độ màu ổn định
hơn.
16
- Khi tăng vận tốc lên quá cao, thành phần dung dịch ẩm trong hỗn hợp nhũ
tương cũng tăng lên dẫn đến lượng hỗn hợp mất đi sự ổn định, khả năng
truyền mực xuống bản bị giảm. Từ đó mật độ màu trên sản phẩm in cũng
giảm theo.
- Trong thực nghiệm, khi tăng vận tốc in cao cũng thường xảy ra lỗi như bị
rối khi ra giấy, bị xước sản phẩm in do vận tốc lớn nên giấy khi ra bị văng
ra xa nhíp không bắt được mà va vào dìa của nhíp => Ảnh hưởng tới chất
lượng in

 Vậy với máy SM74, áp lực in 0,15, giấy C định lượng 150g/m 2 thì
tốc độ in phù hợp là 6000 tờ/giờ.

17
BÀI 5: KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA MỰC IN TỚI CHẤT LƯỢNG
SẢN PHẨM IN

I. Mục đích thí nghiệm


- Tìm hiểu ảnh hưởng của mực in tới chất lượng sản phẩm in.
- So sánh chất lượng sản phẩm in giữa các loại mực của các hãng khác nhau.
II. Báo cáo thí nghiệm
1. Trình bày mục đích và ý nghĩa của việc thay đổi các loại mực
- Mục đích: Tìm hiểu ảnh hưởng của mực in tới chất lượng sản phẩm in
- Ý nghĩa: Trong thực tế có rất nhiều hãng mực, loại mực khác nhau. Việc khảo sát
và so sánh các loại mực in của các hãng khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp chọn lựa
được loại mực phù hợp.
2. Phân tích ảnh hưởng của mực in tới chất lượng sản phẩm in trong quá trình
in
- Khái niệm: mực in là hỗn hợp của các picmăng màu, chất liên kết và các chất phụ
gia.
- Ảnh hưởng của mực in cụ thể là:
• Độ nhớt
o Là thông số quan trọng nhất quyết định khả năng in của mực. Độ nhớt của mực
thể hiện mực sẽ chảy như thế nào trong quá trình in. Mực in offset, có độ nhớt
cao và thuộc nhóm chất lỏng không Newton tức là tốc độ chảy của chúng
không tỉ lệ với lực tác động. Với loại mực này độ nhớt có thể giảm đi trong quá
trình làm việc.
o Mực in offset có độ nhớt quá cao (không bị chảy do tác động của chính trọng
lượng của nó) sẽ không thể lấy mực và truyền đi trên hệ thống lô mực nhưng
ngược lại mực có độ nhớt quá thấp sẽ không giữ được trên lô mực và sau khi
truyền qua hệ thống lô mực, trên bản, trên cao su thì lượng mực được truyền
lên giấy là quá ít và không thể đảm bảo các yêu cầu về mật độ màu và sự thể
hiện các chi tiết in.
• Độ dính
o Độ dính có ý nghĩa quan trọng trong quá trình in, đặc biệt là in offset - phương
pháp in đòi hỏi mực có độ nhớt cao và độ dính cao. Để mực có thể truyền từ lô

18
này sang lô khác, từ bề mặt bản truyền qua bề mặt cao su rồi mới truyền qua bề
mặt in thì mực phải có độ dính phù hợp. Mực có độ dính quá cao có thể bóc
hoặc làm xơ mặt giấy và khó thể hiện tông bẹt, trong khi mực có độ dính thấp
lại khó thể hiện các đường nét mảnh và các chi tiết ảnh nửa tông. Các kết quả
nghiên cứu chỉ ra rằng mực có độ dính cao sẽ giảm sự gia tăng tầng thứ trong
khi in so với mực có độ dính thấp. Mực có độ dính cao cũng khó bị nhũ hóa
bởi dung dịch ẩm và do vậy trong một số trường hợp sẽ khó in.
o Độ dính của mực phải được đặc biệt chú ý trong quá trình truyền mực ướt khi
in chồng màu. Quá trình này chỉ được thực hiện tốt khi lớp mực in sau có độ
dính thấp hơn lớp mực in trước. Do đó, kết quả phục chế sẽ được nâng lên nếu
độ dính của từng mực màu được lựa chọn phù hợp. Việc lựa chọn mực theo độ
dính cũng cần chú ý đến mối liên hệ giữa độ dính và độ nhớt để đảm bảo quá
trình truyền mực được tốt. Hiện nay, có một số loại mực được pha chế đặc biệt
để có độ dính thấp trong khi độ nhớt cao hoặc ngược lại.
• Tính xúc biến
o Hầu như các loại mực nhão (ví dụ như mực in offset) có tính xúc biến và độ
nhớt của nó thay đổi khi in. Mực khi ở trên hệ thống lô mực có độ nhớt thấp
hơn khi ở trên giấy. Do đó tính xúc biến có ảnh hưởng tới khả năng truyền mực
lên giấy sau khi in. Tính xúc biến là yếu tố cần quan tâm khi người thợ bổ sung
các phụ gia vào mực trong quá trình in vì khi không làm việc mực cứng và việc
trộn các thành phần thêm vào có thể sẽ không đồng nhất dẫn đến những trục
trặc trong quá trình in. Ngoài ra, mực có tính xúc biến cao sẽ gây trở ngại đáng
kể khi dừng máy trong khi in. Khi dừng máy mực sẽ tăng độ nhớt đột ngột và
sau một khoảng thời gian nhất định mực mới đi vào trạng thái làm việc ổn
định. Điều này dẫn đến kết quả là các lớp mực in có mật độ và chất lượng
không đồng đều nếu phải dừng máy in liên tục.
• Nhiệt độ
o Độ nhớt của mực bị thay đổi rất nhiều do nhiệt độ. Độ nhớt của mực có thể
giảm đi tới 50% khi nhiệt độ tăng lên 8ºC. Trong quá trình in chồng màu trên
máy in nhiều màu, nếu máy in không được làm nóng trước khi bắt đầu in thì
nhiệt độ tăng dần trong suốt quá trình in sẽ làm thay đổi độ nhớt của mực và
làm thay đổi màu sắc tờ in, trường hợp máy quá lạnh khi giấy được đưa vào thì
độ nhớt quá cao của mực lúc đó có thể gây ra hiện tượng bóc xơ mặt giấy.
• Màu sắc

19
o Màu sắc của mực là yếu tố mang tính chất quyết định đến sự hình thành sản
phẩm in. Tông màu mực là màu của pigment và phần nào bị ảnh hưởng bởi
màu của chất mang. Màu của mực là sự kết hợp của tông đậm và tông nhạt, cả
hai đều rất quan trọng trong quá trình phối màu, bởi vì màu cảu mực trên một
nền nào đó phụ thuộc vào khả năng phản xạ hoặc truyền sáng. Nếu màng mực
dày thì tông đậm chiếm thế chủ đạo, còn trong tình huống ngược lại là vai trò
của tông nhạt. Do vậy, mực chỉ được coi là đạt chất lượng nếu cả tông đậm và
tông nhạt của nó thỏa mãn các tiêu chuẩn về màu. Với các mực màu cơ bản thì
khoảng màu phục chế của chúng là yếu tố cần quan tâm. Thông thường các loại
mực cho khoảng màu rộng sẽ cho phép phục chế nhiều màu với độ chính xác
cao hơn. Bên cạnh tông màu thì cường độ màu cũng là thông số ảnh hưởng đến
khả năng thể hiện của mực. Hiển nhiên, nồng độ chất màu cao sẽ cho cường độ
màu cao nhưng độ mịn và khả năng phân tán của chất màu trong màng mực
cũng ảnh hưởng đáng kể đến cường độ màu. Chất màu có kích thước nhỏ, phân
tán đồng đều sẽ tạo ra màng mực phẳng mịn và do vậy ánh sáng phản xạ từ
trong lớp mực không bị pha trộn với ánh sáng tán xạ trên bề mặt, kết quả là
cảm nhận màu có độ thuần sắc cao. Mực có cường độ màu cao cho phép in với
màng mực mỏng mà vẫn đạt yêu cầu về cường độ màu.
• Độ trong
o Về mặt lý tưởng, mực in có chức năng giống như một kính lọc sắc tức là sẽ hấp
thụ chọn lọc một số bức xạ đơn sắc nào đó, cho xuyên qua toàn bộ các bức xạ
còn lại và những bức xạ này sẽ bị dội ngược trở lại từ bề mặt in. Tuy nhiên trên
thực tế, tất cả các loại mực in đều không đảm bảo tính trong suốt, chúng vẫn có
khả năng phản xạ ánh sáng, do độ đục của chính bản thân chất màu, chất mang
và sự không tương thích về chỉ số khúc xạ của chúng. Điều này có nghĩa là khi
hai hay nhiều lớp mực in chồng lên nhau thì màu hỗn hợp sẽ có tông ngả về
tông của màu in sau cùng và dễ dẫn đến hiện tượng mất cân bằng màu.
• Độ bóng
o Độ bóng của mực chủ yếu phụ thuộc vào chất liên kết. Ở trạng thái tự nhiên
các chất màu có độ bóng rất thấp và chỉ có nhờ nhựa liên kết mới có độ bóng.
Do đó, muốn có mực bóng thì lượng nhựa trong mực phải càng nhiều và càng
ít chất màu. Tuy nhiên, điều này khó đạt được.
• Độ mịn
o Độ mịn của mực có liên quan mật thiết đến các đặc tính quang học cũng như
khả năng in của mực. Độ mịn của mực phụ thuộc vào kích thước các thành

20
phần trong mực như chất màu, chất mang, phụ gia và mức độ phân bố đồng
đều của các thành phần này. Mực có độ mịn cao cho phép lớp mực dàn mỏng,
đều trên các hệ thống lô trong khi in và kết quả tạo ra mực trên vật liệu nền có
độ mịn, cường độ màu cao. Điều này không chỉ có ý nghĩa tăng độ sắc nét, tăng
chất lượng màu sắc hình ảnh in mà còn tiết kiệm mực, mang lại hiệu quả kinh
tế cao.

3. Kết quả thí nghiệm


- Giá trị mật độ màu đo được ở các mẫu:

Nippon Apex
Lần đo
C M C M

1 1.55 1.56 1.62 1.51

2 1.55 1.57 1.62 1.52

3 1.57 1.58 1.62 1.53

4 1.57 1.59 1.60 1.51

5 1.61 1.58 1.62 1.49

6 1.56 1.58 1.61 1.50

7 1.58 1.59 1.62 1.52

8 1.62 1.59 1.61 1.51

9 1.60 1.59 1.60 1.50

10 1.60 1.59 1.61 1.49

TB 1.58 1.58 1.61 1.51

21
- Bảng đo giá trị màu:
Nippon
Lần đo C M
L a b L a b
1 52.17 -19.29 -47.74 42.12 69.67 -5.77
2 52.00 -18.8 -47.98 41.99 70.02 -6.25
3 52.04 -18.3 -49.62 41.88 70.16 -6.08
4 54.62 -18.82 -48.02 41.75 70.41 -6.45
5 54.99 -17.62 -49.08 41.80 70.03 -5.83
6 54.71 -21.23 -45.69 41.72 70.22 -5.44
7 51.45 -18.28 -49.92 41.35 70.82 -4.97
8 51.18 -17.98 -49.07 41.22 70.65 -4.85
9 51.48 -18.77 -48.45 41.37 70.23 -3.99
10 51.48 -18.20 -48.92 41.06 70.68 -4.90
TB 52.61 -18.73 -48.45 41.63 70.29 -5.45

Apex
Lần đo C M
L a b L a b
1 50.68 -16.91 -49.1 42.64 68.24 -5.97
2 50.38 -17.27 -48.85 42.36 67.91 -4.19
3 50.72 -17.41 -48.94 42.54 68.75 -6.03
4 50.87 -17.73 -48.66 42.60 68.47 -5.86
5 50.69 -14.42 -49.42 42.75 67.77 -5.21

22
6 50.82 -16.94 -49.27 42.66 68.14 -4.61
7 50.47 -16.69 -49.04 42.67 67.97 -4.88
8 50.67 -15.99 -48.72 42.69 68.82 -6.81
9 50.71 -17.45 -48.63 42.81 67.86 -5.74
10 50.88 -16.92 -49.55 42.86 68.42 -6.77
TB 50.69 -16.77 -49.02 42.66 68.24 -5.64

Nhận xét:
- Mực Nippon cho mật độ màu M cao hơn so với mực Apex, còn mực Apex cho
mật độ màu C cao hơn mực Nippon. Tuy nhiên sự chêch lệch là không nhiều.

 Độ sai màu giữa 2 mực Apex và Nippon được tính bằng: ∆E=
√( ΔL2 + Δa2+ Δb2 )
∆E=√(50.69−52.61)2 +(−16.77+18.73)2+(−49.02+ 48.45)2= 2,8
(Màu C)
∆E= √ (42.66−41.63)2+(68.24−70.29)2+(−5.64+5.45)2 = 2.3
(Màu M)
- Độ sai màu giữa mực Apex và Nippon: 2<∆E<3.

 Có thể phân biệt bằng mắt thường

23

You might also like